Tín dụng tăng thấp, rủi ro ngoài vòng trách nhiệm tăng cao?

Như BizLIVE đề cập gần đây, tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm 2019 thấp hơn hẳn so với cùng kỳ 5 năm trở lại đây, kể từ năm 2015.

Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê, tính đến 20/9/2019, tăng trưởng tín dụng chỉ đạt 8,4%; hay cập nhật mới hơn từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 4/10 mức tăng so với cuối 2018 cũng chỉ 8,95%.

Trong khi đó, cùng kỳ năm 2018 tăng trưởng tín dụng đạt 9,52%, cùng kỳ 2017 tăng tới 11,02%, cùng kỳ 2016 tăng 10,46%, và đặc biệt 9 tháng đầu năm 2015 tăng tới 12,12%.

Vì sao tăng trưởng tín dụng từ đầu năm 2019 đến nay lại tăng chậm như vậy?

Câu hỏi và diễn biến trên như ngược với kỳ vọng trước đó, khi từ giữa năm 2019, với loạt ngân hàng thương mại đạt chuẩn Basel II trước thời hạn có thông tin được nới rộng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Trước câu hỏi trên, lý giải chung đầu tiên: từ năm 2019, nhiều rào cản kỹ thuật trong hoạt động ngân hàng nâng lên, hoặc phải chuẩn bị để đáp ứng ở mức cao hơn như nâng hệ số rủi ro, giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn, chuẩn bị áp Basel II từ 01/01/2020…

Rào cao, khó vác nặng khi vượt. Các ngân hàng thương mại khó gia tăng tín dụng hơn trước, khi phải đáp ứng các chuẩn mực cao hơn, thậm chí áp lực ngày càng lớn hơn (đặc biệt tại những thành viên như Agribank, VietinBank và BIDV chiếm thị phần cho vay lớn nhưng vẫn chưa tăng được vốn điều lệ).

Tín dụng tăng thấp, rủi ro ngoài vòng trách nhiệm tăng cao? - Ảnh 1.

Tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm trong 5 năm qua (đơn vị: %). Nguồn: Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, có một nguyên do khác trở nên nổi bật trong năm 2019, khi nhìn về diễn biến tăng trưởng tín dụng thấp. Đó là giao dịch vốn chảy ngoài hệ thống ngân hàng.

Thứ nhất, theo một số đầu mối nghiên cứu đầu tư tự tập hợp, ước tính lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành 9 tháng đầu năm nay đã lên tới trên 155.000 tỷ đồng.

Thứ hai, đáng chú ý hơn, hoạt động cho vay ngang hàng (P2P Lending) đang là một khuất số trong hệ thống thống kê của Việt Nam. Quy mô hoạt động cho vay và vay vốn này chưa từng được công bố, xác nhận cụ thể, trong khi xu hướng mở rộng diễn ra nhanh chóng.

Nếu đầu năm Ngân hàng Nhà nước cho biết Việt Nam có khoảng 40 công ty cho vay ngang hàng đang hoạt động, thì đến giữa năm một đầu mối lớn trong cuộc (NextTech) cập nhật chỉ riêng lượng từ Trung Quốc tràn sang đã lên tới khoảng 60 – 70 doanh nghiệp.

Đối tượng chủ yếu của cho vay ngang hàng là tiêu dùng cá nhân, hộ sản xuất, doanh nghiệp nhỏ. Quy mô giao dịch nguồn vốn ở kênh này hiện chưa có số liệu thống kê, nhưng là một chia sẻ đáng chú ý đối với kênh tín dụng ngân hàng.

Ví dụ như tham khảo tại một đầu mối cho vay ngang hàng là Tima. Theo giới thiệu tại lễ ký hợp tác chiến lược với Nam A Bank đầu năm nay, chỉ riêng đầu mối này tại thời điểm đó đã có tới 30.607 đơn vị, cá nhân cho vay và hơn 2,7 triệu người vay trên các nền tảng của mình, xử lý gần 5.000 đơn vay mỗi ngày. Tổng số tiền kết nối giải ngân qua sàn Tima khi đó đã đạt hơn 2 tỷ USD.

Như trên, doanh nghiệp tự đi huy động vốn qua trái phiếu cùng hoạt động cho vay ngang hàng đang trở nên nổi bật trong năm 2019. Cả hai kênh này đều thu hút nguồn vốn chảy ngoài hệ thống ngân hàng.

Khi chảy ngoài hệ thống mạnh lên, một mặt nó tạo chia sẻ ở diễn biến tăng trưởng tín dụng truyền thống; mặt khác, nếu có phát sinh rủi ro nợ xấu, thì nó cũng nằm ngoài vòng trách nhiệm của hệ thống ngân hàng thương mại.